|
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
Hầu hết những nhà quản lý, nhà lãnh đạo đều cho rằng “Quá nhiều việc
trong vấn đề kinh doanh của tôi, vấn đề môi trường tôi chưa quan tâm”,
ai cũng vậy thì không biết thế giới của chúng ta, ngôi nhà chung của
chúng ta sẽ ra sao ? sẽ bụi, sẽ ồn, sẽ nóng, sẽ động đất, sẽ sóng
thần, sẽ bão, sẽ lũ lụt, sẽ … sẽ còn nhiều vấn đề mà chúng ta đang
và sẽ phải đối mặt với chúng.
Bài toán
để ngăn chặn là gì ? thiết kế các thiết bị các công nghệ ngăn cản sự
ô nhiễm môi trường, phải chồng cây xanh, phải không chặt phá rừng …
đặt lên trên tất cả yếu tố này đó là “ý thức” của tất cả mọi người
trong ngôi nhà chung “hướng về môi trường”, chỉ khi đó chúng ta mới
tạm giải quyết triệt để vấn đề môi trường.
ISO
14000 một nghành khoa học về quản lý môi trường dành riêng cho các tổ chức,
các doanh nghiệp với hai khía cạnh về môi trường, khía cạnh thứ nhất
là làm giảm, ngăn ngừa, kiểm soát được các vấn đề ô nhiễm đối với
môi trường, khía cạnh thứ hai kiểm soát được việc sử dụng tài nguyên
– nếu nhìn trước mắt thì đây cũng là vấn đề quan tâm của các
Nhà quản lý – đó là sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sử dụng – “giảm
được chi phí”.
Trở lại
SO 14000, ISO 14001, ISO14000
Lịch sử hình thành ISO 14000
www.tuvaniso14000.com
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004000, ISO 14001, ISO14000
Bộ
tiêu chuẩn quốc tế về quản lí môi trường do
Tổ
chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế
(ISO)
công bố. Các tiêu chuẩn của bộ ISO 14000 đưa ra những yếu tố cơ bản
của một hệ quản lí môi trường (EMS - Environmental Management
System) hữu hiệu. Những yếu tố này bao gồm việc xây dựng một chính
sách về môi trường, xác định các mục đích và mục tiêu, thực hiện một
chương trình để đạt được những mục tiêu đó, giám sát và đánh giá
tính hiệu quả của nó, điều chỉnh các vấn đề và kiểm tra hệ thống để
cải thiện nó và cải thiện tác động chung đối với môi trường.
Uỷ ban
Kĩ thuật TC 207 của ISO được thành lập và bắt đầu hoạt động từ 1993
để xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế cho các hệ quản lí môi trường.
Công việc của TC 207 bao gồm những tiêu chuẩn trong lĩnh vực đánh
giá các tổ chức [các hệ thống quản lí môi trường (EMS); thẩm định
môi trường (EA - Environmental Auditing); đánh giá tác động đối với
môi trường (EPE - Environmental Performance Evaluation)] cũng như
trong lĩnh vực sản phẩm và quá trình [ghi nhãn môi trường (EL -
Environmental Labeling); đánh giá chu trình chuyển hoá (LCA - Life
Cycle Assessment); các khía cạnh môi trường trong tiêu chuẩn sản
phẩm (EAPS - Environmental Aspects in Product Standards)]. Những
tiêu chuẩn đầu tiên đã được chấp nhận là: a) ISO 14001 - "Hệ thống
quản lí môi trường. Quy định và hướng dẫn sử dụng"; b) ISO 14004 - "Hệ
thống quản lí môi trường. Hướng dẫn chung về nguyên tắc, hệ thống và
các kĩ thuật hỗ trợ"; c) ISO 14010 - "Hướng dẫn đánh giá môi trường.
Các nguyên tắc chung"; d) ISO 14011 - "Hướng dẫn đánh giá môi trường.
Quy trình đánh giá. Đánh giá hệ thống quản lí môi trường"; e) ISO
14012 - "Hướng dẫn đánh giá môi trường. Tiêu chuẩn năng lực đối với
các đánh giá trên về môi trường".
Phiên bản chính thức được ban hành vào năm 1996 và được soát xét lần
1 vào năn 2004.
Bách khoa toàn thư Việt
Nam
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
Những thay đổi chính của ISO 14001: 2004
www.tuvaniso14000.com
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
Phiên
bản ISO 14001: 2004 ra đời thay thế cho phiên bản ISO 14001:1996 với
những thay đổi chính:
- Nhấn mạnh việc tuân thủ các yêu cầu luật pháp
- Bổ sung điều khoản Đánh giá sự phù hợp - sự tuân thủ
- Thuận tiện cho việc tích hợp với các hệ thống khác (ISO 9000,
OHSAS 18000)
Tiêu chuẩn đánh giá cho hai hệ thống ISO
9000 và ISO 14000
www.tuvaniso14000.com
Đối
với phiên bản ISO 14000 năm 1996, ISO 14011: 1996 là tiêu chuẩn
hướng dẫn đánh giá hệ thống thống quản lý môi trường, tuy nhiên tiêu
chuẩn ISO 19011:2002 thay thế cho tiêu chuẩn ISO 14011: 1996 và được
dùng cho cả hướng dẫn đánh giá hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001:2000.Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
Mô hình hệ thống quản lý môi trường ISO
14001: 2004
www.tuvaniso14000.com
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004

Cấu trúc của hệ thống
quản lý môi trường được xây dựng dựa trên mô hình P-D-C-A và bao gồm:
- Thiết lập chính sách
môi trường
- Lập kế hoạch
- Thực hiện và điều hành
- Kiểm tra và hành động
khắc phục
- Xem xét của lãnh đạo
SO 14000, ISO 14001, ISO14000
Các yêu cầu của hệ thống quản lý môi trường
ISO 14001: 2004
www.tuvaniso14000.com
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
-
Yêu cầu chung
- Các khía cạnh về
môi trường
- Các yêu cầu của
luật pháp
- Chương trình quản
lý Môi trường
- Cấu trúc và trách
nhiệm
- Đào tạo, nhận thức
và năng lực
- Tài liệu của hệ
thống quản lý môi trường
- Chuẩn bị sãn sàng
và ứng phó với tình trạng khẩn cấp
- Khắc phục và phòng
ngừa
- Đo lường và giám
sát việc thực hiện
- Sự không phù hợp và
hành động khắc phục phòng ngừa
- Đánh giá hệ thống
quản lý môi trường
Các yêu cầu
luật định & yêu cầu khác khi áp dụng ISO 14000
www.tuvaniso14000.com
Yêu
cầu của tiêu chuẩn ISO 14000 , đặc trưng họat động của Tổ chức -
Doanh nghiệp và yêu cầu luật định, các yêu cầu khác về môi trường
của quốc gia sẽ tạo nên mô hình hệ thống qủan lý môi trường đặc
trưng cho từng Tổ chức - Doanh nghiệp. Về yêu cầu liên quan đến luật
định và các yêu cầu khác, tiêu chuẩn ISO 14000 hướng dẫn Tổ chức –
Doanh nghiệp phải thiết lập, thực hiện và duy trì các thủ tục:
a) Xác định và tiếp cận với các yêu cầu của luật định và các yêu cầu
khác có liên quan đến khía cạnh môi trường mà tổ chức phải tuân thủ,
và
b) Xác định việc áp dụng các yêu cầu này đối với các khía cạnh môi
trường của tổ chức
Tổ chức phải đảm bảo rằng các yêu cầu có liên quan luật định và các
yêu cầu khác mà tổ chức phải tuân thủ cần được đề cập khi thiết lập,
thực hiện và duy trì hệ thống quản lý môi trường
Một số yêu cầu luật định tham khảo
Xác định khía cạnh môi trường
www.tuvaniso14000.com
Một
trong những yêu cầu chính của Hệ thống quản lý môi trường là xác
định khía cạnh môi trường – tìm kiếm những họat động của Tổ chức –
doanh nghiệp có tác động đến môi trường. Theo yêu cầu ISO
14001:2004, Tổ chức phải xác định, thực hiện và duy trì các thủ tục
a) Để xác định các khía cạnh môi trường của các hoạt động, sản phẩm
và dịch vụ trong phạm vi áp dụng của hệ thống quản lý môi trường mà
tổ chức có thể kiểm soát và các khía cạnh mà tổ chức có thể ảnh
hưởng, có xem xét đến việc hoạch định hay phát triển mới, hoặc các
hoạt động, sản phẩm mới và dich vụ mới hay sửa đổi, và
b) Để xác định các khía cạnh có hoặc có thể có các tác động đáng kể
đối với môi trường
Tổ chức phải lập thành văn bản các thông tin này và cập nhật chúng
và Tổ chức phải đảm bảo rằng các khía cạnh môi trường có ý nghĩa
được xem xét đến.
Khi xác định khía cạnh môi trường Tổ chức phải quan tâm đến các họat
động
• Phát thải tới không khí
• Thải ra nước
• Thải ra đất
• Sử dụng nguyên liệu và các nguồn lực tự nhiên
• Sử dụng năng lượng
• Phóng xạ
• Rác sản phẩm
• Thiết kế và phát triển
• Quá trình sản xuất
• Đóng gói, vận chuyển
• Khai thác và phân phối nguyên liệu nguồn lực tự nhiên
• Phân phối, sử dụng và quá trình hết sử dụng của sản phẩm
Để
xác định cụ thể khía cạnh môi trường cho mọi họat động trong Tổ chức
– Doanh nghiệp, thông thường hệ số tác động môi trường được lượng
hóa qua công thức (Chỉ số tác động môi trường = Mức độ nghiêm trọng
x Khả năng xảy ra) và tùy từng yêu cầu, từng thời điểm mà Tổ chức –
Doanh nghiệp sẽ chọn mức điểm của hệ số này để xác định đâu là khía
cạnh gây tác động đáng kể đến môi trường.
Tài liệu tham khảo áp dụng ISO 14001:
2004
www.tuvaniso14000.com
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu v
an ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
[1]
ISO 9000:2005, Hệ thống quản lý chất lượng - cơ sở và từ vựng
[2] ISO 9001:2008, Hệ thống quản lý chất lượng - các yêu cầu
[3] ISO 14001:2004, Hệ thồng quản lý môi trường - Hướng dẫn
nguyên tắc, hệ thống và công nghệ hỗ trợ
[4] ISO 19011:2002, Hướng dẫn đánh giá
[5] Các văn bản luật pháp về môi trường tại Việt Nam
http://www.banmua.vn/t96565_.html
Môi trường
www.iso14000.com.vn
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
"Môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan
hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên."
(Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam).
Môi
trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:
·
Môi
trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều
chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển
cả, không khí, động, thực vật, đất, nước... Môi trường tự nhiên cho
ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi,
cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản
xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp
cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong
phú.
· Môi
trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định... ở các cấp
khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh,
huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn
giáo, tổ chức đoàn thể,... Môi trường xã hội định hướng hoạt động
của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể
thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác
với các sinh vật khác.
· Ngoài
ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm
tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi
trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô
thị, công viên nhân tạo...
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội
cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên
thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã
hội...
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà
chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới
chất lượng cuộc sống con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm
nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân
chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội
với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định
không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành
và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư,
quy định.
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ
sở để sống và phát triển.
Vietnam
Association for Conservation of Nature and Enviroment
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
Môi trường và phát triển kinh tế xã hội
www.iso14000.com.vn
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
Phát
triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật
chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật
chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá. Phát
triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá
trình sống. Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức
chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn
phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường.
Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hoá được di chuyển từ sản xuất,
lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của
nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, phế thải. Các thành phần đó luôn
ở trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ
thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó. Khu vực giao nhau
giữa hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo.
Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía
cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần
thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự
nhiên hoặc nhân tạo. Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng
tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy
thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển
hoặc gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội
trong khu vực.
Ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau có các xu
hướng gây ô nhiễm môi trường khác nhau. Ví dụ:
· Ô
nhiễm do dư thừa: 20% dân số thế giới ở các nước giàu hiện sử dụng
80% tài nguyên và năng lượng của loài người.
· Ô
nhiễm do nghèo đói: những người nghèo khổ ở các nước nghèo chỉ có
con đường phát triển duy nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng,
khoáng sản, nông nghiệp,...). Do đó, ngoài 20% số người giàu, 80% số
dân còn lại chỉ sử dụng 20% phần tài nguyên và năng lượng của loài
người.
Mâu
thuẫn giữa môi trường và phát triển trên dẫn đến sự xuất hiện các
quan niệm hoặc các lý thuyết khác nhau về phát triển:
·
Lý thuyết
đình chỉ phát triển là làm cho sự tăng trưởng kinh tế bằng (0) hoặc
mang giá trị (-) để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của trái đất.
· Một
số nhà khoa học khác lại đề xuất lấy bảo vệ để ngăn chặn sự nghiên
cứu, khai thác tài nguyên thiên nhiên.
· Năm
1992 các nhà môi trường đã đưa ra quan niệm phát triển bền vững, đó
là phát triển trong mức độ duy trì chất lượng môi trường, giữ cân
bằng giữa môi trường và phát triển.
Vietnam
Association for Conservation of Nature and Enviroment
SO 14000, I
Cô nghệ môi trường, công nghệ sạch, sản
xuất sạch
www.iso14000.com.vn
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
Công
nghệ môi trường
"Công
nghệ môi trường là tổng hợp các biện pháp vật lý, hoá học, sinh học
nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất độc hại phát sinh từ quá trình sản
xuất và hoạt động của con người. Công nghệ môi trường bao gồm các
tri thức dưới dạng nguyên lý, quy trình và các thiết bị kỹ thuật
thực hiện nguyên lý và quy trình đó".
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người tác động vào
tài nguyên, biến chúng thành các sản phẩm cần thiết sử dụng trong
hoạt động sống. Việc này không tránh khỏi phải thải bỏ các chất độc
hại vào môi trường, làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm. Ở các các
nước phát triển, vốn đầu tư cho công nghệ xử lý chất thải chiếm từ
10 - 40% tổng vốn đầu tư sản xuất. Việc đầu tư các công nghệ này tuy
cao nhưng vẫn nhỏ hơn kinh phí cần thiết khi cần phục hồi môi trường
đã bị ô nhiễm.
Công nghệ sạch
"Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật
không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát ra ở mức thấp nhất chất
gây ô nhiễm môi trường".
Có thể áp dụng công nghệ sạch đối với các quy trình sản xuất trong
bất kỳ ngành công nghiệp nào và bất kỳ sản phẩm công nghiệp nào. Đối
với các quá trình sản xuất, công nghệ sạch nhằm giảm thiểu các tác
động môi trường và an toàn của các sản phẩm trong suốt chu trình
sống của sản phẩm, bảo toàn nguyên liệu, nước, năng lượng, loại bỏ
các nguyên liệu độc hại, nguy hiểm, giảm độc tính của các khí thải,
chất thải ngay từ khâu đầu của quy trình sản xuất.
SO 14000, ISO 14001, ISO14000
Sản xuất sạch
"Sản xuất sạch hơn là cải tiến liên tục quá trình sản xuất công
nghiệp, sản phẩm và dịch vụ để giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên,
để phòng ngừa tại nguồn ô nhiễm không khí, nước và đất, và giảm phát
sinh chất thải tại nguồn, giảm thiểu rủi ro cho con người và môi
trường"
·
Đối với
quá trình sản xuất: Sản xuất sạch hơn bao gồm tiết kiệm nguyên vật
liệu, năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc, giảm lượng và độ độc
của các dòng thải trước khi đi ra khỏi quá trình sản xuất.
· Đối
với sản phẩm: Sản xuất sạch hơn làm giảm ảnh hưởng trong toàn bộ
vòng đời của sản phẩm từ khâu chế biến nguyên liệu đến khâu thải bỏ
cuối cùng. SO 14000, ISO 14001,
ISO14000
Vietnam
Association for Conservation of Nature and Enviroment
Khủng hoảng môi trường, ô nhiễm môi
trường
www.iso14000.com.vn
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004SO 14000, ISO 14001, ISO14000
Hiện
nay, thế giới đang đứng trước những cuộc khủng hoảng lớn là: dân số,
lương thực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái. Năm cuộc khủng
hoảng này đều liên quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất
lượng cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm. Nguyên nhân gây
nên các cuộc khủng hoảng là do sự bùng nổ dân số và các yếu tố phát
sinh từ sự gia tăng dân số. Do đó, xuất hiện một khái niệm mới là
khủng hoảng môi trường.
"Khủng hoảng môi trường là các suy thoái về chất lượng môi trường
sống trên quy mô toàn cầu, đe doạ cuộc sống của loài người trên trái
đất".
Sau đây là những biểu hiện của khủng hoảng môi trường:
· Ô
nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2 v.v...) vượt tiêu chuẩn cho phép tại
các đô thị, khu công nghiệp.
· Hiệu
ứng nhà kính đang gia tăng làm biến đổi khí hậu toàn cầu.
· Tầng
ozon bị phá huỷ.
· Sa
mạc hoá đất đai do nhiều nguyên nhân như bạc màu, mặn hoá, phèn hoá,
khô hạn.
·
Nguồn nước
bị ô nhiễm.
· Ô
nhiễm biển xảy ra với mức độ ngày càng tăng.
· Rừng
đang suy giảm về số lượng và suy thoái về chất lượng
· Số
chủng loài động thực vật bị tiêu diệt đang gia tăng.
· Rác
thải, chất thải đang gia tăng về số lượng và mức độ độc hại.
Vietnam
Association for Conservation of Nature and Enviroment
Đánh giá tác động môi trường
www.iso14000.com.vn
SO
14000, ISO 14001, ISO14000
"Đánh
giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh
hưởng đến môi trường của các dự án quy hoạch, phát triển kinh tế -
xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa
học kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các công
trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường".
Hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở đây có loại mang tính kinh
tế - xã hội của quốc gia, của một địa phương lớn, hoặc một ngành
kinh tế văn hóa quan trọng (luật lệ, chính sách quốc gia, những
chương trình quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch quốc
gia dài hạn), có loại mang tính kinh tế - xã hội vi mô như đề án xây
dựng công trình xây dựng cơ bản, quy hoạch phát triển, sơ đồ sử dụng
một dạng hoặc nhiều dạng tài nguyên thiên nhiên tại một địa phương
nhỏ. Tuy nhiên, một hoạt động có ý nghĩa vi mô đối với cấp quốc gia,
nhưng có thể có ý nghĩa vĩ mô đối với xí nghiệp. Hoạt động vi mô
nhưng được tổ chức một cách phổ biến trên địa bàn rộng có khi lại
mang ý nghĩa vĩ mô.
Tác động đến môi trường có thể tốt hoặc xấu, có lợi hoặc có hại
nhưng việc đánh giá tác động môi trường sẽ giúp những nhà ra quyết
định chủ động lựa chọn những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế
và kỹ thuật trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
nào.
Vietnam
Association for Conservation of Nature and Enviroment
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
Kinh tế môi trường
www.iso14000.com.vn
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
SO 14000, ISO
14001, ISO14000
"Kinh
tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để nghiên cứu môi
trường và điều đó cũng có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải xét
đến các vấn đề môi trường".
Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tư nhiên nên rất phức tạp,
do đó có thể coi kinh tế môi trường là một ngành phụ trung gian giữa
các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Những điểm cần ghi
nhớ khi xem xét kinh tế môi trường:
· Tài
nguyên không tái tạo như dầu mỏ, than đá, khí đốt có thể bị cạn kiệt.
Do đó, con người phải tìm tài nguyên thay thế hoặc tìm công nghệ sử
dụng các loại năng lượng được coi là vĩnh cửu (năng lượng gió, năng
lượng mặt trời, năng lượng thuỷ triều, v.v...).
· Con
người có thể kiểm soát được khả năng phục hồi tài nguyên tái tạo và
khả năng hấp thụ của môi trường.
· Nâng
cao trách nhiệm đối với thiên nhiên (vai trò quản lý môi trường).
·
Tìm cách
kiểm soát dân số.
Vietnam
Association for Conservation of Nature and Enviroment
Hiệu ứng nhà kính
www.iso14000.com.vn
SO
14000, ISO 14001, ISO14000
Nhiệt
độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng mặt
trời đến bề mặt trái đất và năng lượng bức xạ của trái đất vào
khoảng không gian giữa các hành tinh. Năng lượng mặt trời chủ yếu là
các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí quyển. Trong khi đó,
bức xạ của trái đất với nhiệt độ bề mặt trung bình +16oC là sóng dài
có năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại. Các tác nhân gây
ra sự hấp thụ bức xạ sóng dài trong khí quyển là khí CO2, bụi, hơi
nước, khí mêtan, khí CFC v.v...
"Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa
trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của
khí quyển trái đất. Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như
nhà kính trồng cây và được gọi là Hiệu ứng nhà kính".
Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài người đang làm
cho nồng độ khí CO2 của khí quyển tăng lên. Sự gia tăng khí CO2 và
các khí nhà kính khác trong khí quyển trái đất làm nhiệt độ trái đất
tăng lên. Theo tính toán của các nhà khoa học, khi nồng độ CO2 trong
khí quyển tăng gấp đôi, thì nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên khoảng
3oC. Các số liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5oC
trong khoảng thời gian từ 1885 đến 1940 do thay đổi của nồng độ CO2
trong khí quyển từ 0,027% đến 0,035%. Dự báo, nếu không có biện pháp
khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5 -
4,5oC vào năm 2050.
Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí được xếp theo thứ
tự sau: CO2 => CFC => CH4 => O3 =>NO2. Sự gia tăng nhiệt độ trái đất
do hiệu ứng nhà kính có tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi
trường trái đất.
· Nhiệt
độ trái đất tăng sẽ làm tan băng và dâng cao mực nước biển. Như vậy,
nhiều vùng sản xuất lương thực trù phú, các khu đông dân cư, các
đồng bằng lớn, nhiều đảo thấp sẽ bị chìm dưới nước biển.
· Sự
nóng lên của trái đất làm thay đổi điều kiện sống bình thường của
các sinh vật trên trái đất. Một số loài sinh vật thích nghi với điều
kiện mới sẽ thuận lợi phát triển. Trong khi đó nhiều loài bị thu hẹp
về diện tích hoặc bị tiêu diệt.
· Khí
hậu trái đất sẽ bị biến đổi sâu sắc, các đới khí hậu có xu hướng
thay đổi. Toàn bộ điều kiện sống của tất cả các quốc gia bị xáo động.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ hải sản bị ảnh
hưởng nghiêm trọng.
· Nhiều
loại bệnh tật mới đối với con người xuất hiện, các loại dịch bệnh
lan tràn, sức khoẻ của con người bị suy giảm.
Vietnam
Association for Conservation of Nature and Enviroment
Tầng
Ozon
www.iso14000.com.vn
STư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004O 14000, ISO 14001, ISO14000
Khí
Ozon gồm 3 nguyên tử oxy (03). Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu
với ranh giới trên dao động trong khoảng độ cao 50 km. Ở độ cao
khoảng 25 km trong tầng bình lưu tồn tại một lớp không khí giàu khí
Ozon (O3) thường được gọi là tầng Ozon. Hàm lượng khí Ozon trong
không khí rất thấp, chiếm một phần triệu, chỉ ở độ cao 25 - 30 km,
khí Ozon mới đậm đặc hơn (chiếm tỉ lệ 1/100.000 trong khí quyển).
Người ta gọi tầng khí quyển ở độ cao này là tầng Ozon.
Nếu tầng Ozon bị thủng, một lượng lớn tia tử ngoại sẽ chiếu thẳng
xuống Trái đất. Con người sống trên Trái đất sẽ mắc bệnh ung thư da,
thực vật không chịu nổi nhiều tia tử ngoại chiếu vào sẽ bị mất dần
khả năng miễn dịch, các sinh vật dưới biển bị tổn thương và chết dần.
Bởi vậy các nước trên thế giới đều rất lo sợ trước hiện tượng thủng
tầng Ozon.
SO 14000, ISO 14001, ISO14000
Nguyên nhân nào dẫn
đến thủng tầng Ozon?
Tháng 10 năm 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện thấy tầng khí ozon
trên không trung Nam cực xuất hiện một "lỗ thủng" rất lớn, bằng diện
tích nước Mỹ. Năm 1987, các nhà khoa học Đức lại phát hiện tầng khí
ozon ở vùng trời Bắc cực có hiện tượng mỏng dần, có nghĩa là chẳng
bao lâu nữa tầng ozon ở Bắc cực cũng sẽ bị thủng. Tin này nhanh
chóng được truyền khắp thế giới và làm chấn động dư luận.
Các nhà khoa học đều cho rằng, nguyên nhân này có liên quan tới việc
sản xuất và sử dụng tủ lạnh trên thế giới. Sở dĩ tủ lạnh có thể làm
lạnh và bảo quản thực phẩm được lâu là vì trong hệ thống ống dẫn
khép kín phía sau tủ lạnh có chứa loại dung dịch freon thể lỏng
(thường gọi là "gas"). Nhờ có dung dịch hoá học này tủ lạnh mới làm
lạnh được. Dung dịch freon có thể bay hơi thành thể khí. Khi chuyển
sang thể khí, freon bốc thẳng lên tầng ozon trong khí quyển Trái đất
và phá vỡ kết cầu tầng này, làm giảm nồng độ khí ozon.
Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến freon mà trong dung dịch
giặt tẩy, bình cứu hoả cũng sử dụng freon và các chất thuộc dạng
freon. Trong quá trình sản xuất và sử dụng các hoá chất đó không
tránh khỏi thất thoát một lượng lớn hoát chất dạng freon bốc hơi bay
lên phá huỷ tầng ozon. Qua đó chúng ta thấy rằng, tầng zon bị thủng
chính là do các chất khí thuộc dạng freon gây ra, các hoá chất đó
không tự có trong thiên nhiên mà do con người tạo ra. Rõ ràng, con
người là thủ phạm làm thủng tầng ozon, đe doạ sức khoẻ của chính
mình,
Sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hoá chất dạng freon là biện pháp
hữu hiệu nhất để cứu tầng ozon. Nhiều hội thảo quốc tế đã bàn tính
các biện pháp khắc phục nguy cơ thủng rộng tầng ozon. 112 nước thuộc
khối Cộng đồng Châu Âu (EEC) đã nhất trí đến cuối thế kỷ này sẽ chấm
dứt sản xuất và sử dụng các hoá chất thuộc dạng freon. Vì vậy các
nhà khoa học đang nghiên cứu sản xuất loại hoá chất khác thay thế
các hoá chất ở dạng freon, đồng thời sẽ chuyển giao công nghệ sản
xuất cho các nước đang phát triển. Có như vậy, việc ngừng sản xuất
freon mới trở thành hiện thực. Muốn đạt được yêu cầu thiết thực này,
không chỉ riêng một vài nước mà cả thế giới đều phải cố gắng thì mới
có thể bảo vệ được tầng ozon của Trái đất.
Vietnam
Association for Conservation of Nature and Enviroment
Mưa axit
www.iso14000.com.vn
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
Mưa
axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1948 tại Thuỵ Điển. Nguyên nhân
là vì con người đốt nhiều than đá, dầu mỏ. Trong than đá và dầu mỏ
thường chứa một lượng lưu huỳnh, còn trong không khí lại rất nhiều
khí nitơ. Trong quá trình đốt có thể sinh ra các khí Sunfua đioxit
(SO2), Nitơ đioxit (NO2). Các khí này hoà tan với hơi nước trong
không khí tạo thành các hạt axit sunfuaric (H2SO4), axit nitơric
(HNO3).
Khi trời
mưa, các hạt axit này tan lẫn vào nước mưa, làm độ pH của nước mưa
giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa axit. Do có độ
chua khá lớn, nước mưa có thể hoà tan được một số bụi kim loại và
ôxit kim loại có trong không khí như ôxit chì,... làm cho nước mưa
trở nên độc hơn đối với cây cối, vật nuôi và con người.
Mưa axit
ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ). Các dòng chảy do mưa axit
đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh
vật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao trở thành các
thuỷ vực chết.
Mưa axit
ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm xuống đất làm tăng độ chua
của đất, hoà tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi
(Ca), Magiê (Mg),... làm suy thoái đất, cây cối kém phát triển. Lá
cây gặp mưa axit sẽ bị "cháy" lấm chấm, mầm sẽ chết khô, làm cho khả
năng quang hợp của cây giảm, cho năng suất thấp.
Mưa axit
còn phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại như sắt, đồng, kẽm,...
làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng. ISO
14000, ISO 14001, ISO14000
Vietnam
Association for Conservation of Nature and Enviroment
El-Nino
www.iso14000.com.vn
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004
El-Nino
ban đầu là tên của dòng hải lưu chảy theo hướng nam ngoài khơi bờ
biển Pêru và Êcuađo dẫn đến sự nóng lên của bề mặt nước phía đông
Thái Bình Dương xích đạo dọc ngoài khơi bờ biển Pêru và Êcuađo vốn
thường là lạnh. Hàng năm, vào mùa Giáng sinh, dòng hải lưu ấm chảy
về phía nam dọc bờ biển Êcuađo thay thế cho nước lạnh ở đây và ngư
dân địa phương gọi hiện tượng này là El-Nino (Chúa Hài đồng).
Ngày nay, El-Nino được dùng để chỉ hiện tượng nóng lên khác thường
của nước biển và vành đai xích đạo rộng lớn dài gần 10.000km, từ bờ
biển Nam Mỹ đến quần đảo Macsan, Marudơ ở khu vực giữa Thái Bình
Dương. El-Nino thường gắn với một quá trình lớn của khí quyển - đại
dương là dao động Nam bán cầu và được gọi chung là ENSO. Hiện tượng
El-Nino thường lặp lại với chu kỳ từ 8 đến 11 năm, chu kỳ ngắn hơn
là 2 đến 3 năm. Giữa các thời kỳ nóng lên bất thường của nước biển ở
khu vực trên, đôi khi còn xảy ra hiện tượng ngược lại, nước biển
lạnh đi - Anti- El-Nino, hay còn gọi là La-Nina.
Khi xuất hiện, El-Nino gây ra những thiên tai nặng nề như mưa lớn,
bão, lũ ở vùng này, hạn hán, cháy rừng ở vùng khác, làm thiệt hại
lớn về người, thảm hoạ về kinh tế - xã hội và đặc biệt là những
thiệt hại không thể khắc phục về môi trường.
SO 14000, ISO 14001, ISO14000
Trong khoảng 100 năm trở lại đây, những lần El-Nino xuất hiện gây
thiệt hại lớn là các năm 1877-1878, 1888; đối El-Nino (La-Nina)
1973-1975 và đặc biệt là "El-Nino thế kỷ 1982-1983" gây tổng thiệt
hại cho toàn thế giới là 13 tỷ đô la.
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, thiệt hại do El-Nino 1997-1998
gây cho Inđônêxia, Malaysia, Singapo và đảo Thái Bình Dương đã lên
tới 20 tỷ đô la.SO 14000, ISO 14001, ISO14000
Vietnam
Association for Conservation of Nature and Enviromen
Tư vấn
ISO, Tư vấn ISO 14000, Tu van ISO, Tu van ISO 14000, ISO
14000, ISO 14001, Tư vấn ISO 14001:2004 |