|
Quản lý Chất
Lượng trong tiến trình hội nhập
Trên
con đường hội nhập sâu rộng nền kinh tế quốc tế, mỗi tổ chức
doanh nghiệp cũng như mỗi quốc gia phải có chính sách thích
hợp để tạo ra những thương hiệu riêng cho mình. Quản lý chất
lượng được coi là một biện pháp thiết thực nhằm đẩy mạnh
thương mại hóa toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ
chức, doanh nghiệp cũng như sức cạnh tranh của nền kinh tế
của mỗi quốc gia. Vậy, quản lý chất lượng là gì và đối tượng
nào liên quan tâm để hoạt động quản lý chất lượng thực sự
đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập nền kinh tế
quốc tế.
Theo định
nghĩa của tiêu chuẩn ISO 9000:2005, Quản lý chất lượng là "
hoạt động tương tác và phối hợp lẫn nhau nhằm định hướng và
kiểm soát một tổ chức về chất lượng". Hoạt động quản lý chất
lượng bao gồm việc thiết lập chính sách và mục tiêu chất
lượng; hoạch định chất lượng; kiểm soát chất lượng; đảm bảo
chất lượng và cải tiến chất lượng.
Công tác quản
lý chất lượng ở đây được đề cập đến hai chủ thể, đó là tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh gọi tắt là doanh nghiệp
và Nhà nước. Hoạt động quản lý chất lượng của doanh nghiệp
là một hoạt động từ A đến Z, từ đầu vào đến đầu ra, từ việc
xác định quy mô đầu tư, đối tượng, chủng loại sản phẩm, hàng
hóa và đối tượng khách hàng, cũng như chiến lược bán hàng...
Trong khi đó hoạt động quản lý chất lượng của Nhà nước còn
được gọi là quản lý Nhà nước về chất lượng chỉ thực hiện một
số khâu nhất định trong quá trình quản lý chất lượng nói
chung theo một số nguyên tắc sau:
Chất lượng
sản phẩm, hàng hóa được quản lý trên cơ sở tiêu chuẩn công
bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Căn cứ vào khả
năng gây mất an toàn của sản phẩm, hàng hóa, Nhà nước có
biện pháp cụ thể để quản lý và tập trung chủ yếu vào việc
bảo đẩm an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản và
môi trường.
Quản lý nhà
nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa là trách nhiệm của cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và
người tiêu dùng theo nguyên tắc hậu kiểm và xã hội hóa.
Hoạt động
quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa nói chung là trách
nhiệm của người sản xuất, kinh doanh. Các yếu tố chất lượng
không liên quan đến an toàn được điều chỉnh theo cơ chế thị
trường, Nhà nước không can thiệp mà chỉ tạo ra sân chơi bình
đẳng, công bằng.
Hoạt động
quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải bảo
đảm minh bạch; khách quan; không phân biệt đối xử về xuất xứ
hàng hóa và tổ chức cá nhân có hoạt động liên quan đến chất
lượng sản phẩm, hàng hóa; phù hợp với thông lệ quốc tế;
thuận lợi hóa thương mại tạo điều kiện cho doanh nghiệp có
cơ hội để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh
tranh của sản phẩm, hàng hóa của mình.
Hoạt động
hoạch định chất lượng có thể gồm nhiều yếu tố:
Xây dựng
chính sách, chiến lược và mục tiêu chất lượng quốc gia thông
qua việc xây dựng hệ thống pháp luật liên quan đến tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quản lý chất lượng sản
phẩm,hàng hóa; Xác định các yêu cầu quản lý chất lượng đối
tượng sản phẩm. hàng hóa, dịch vụ cụ thể (sản phẩm có nguy
cơ cao về an toàn, an ninh, môi trường và sản phẩm hàng hóa
có khả năng cạnh tranh...) để xây dựng và ban hành quy chuẩn
kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc gia cho sản phẩm. hàng hóa đó; Quy
định cơ chế, trách nhiệm, nguồn lực và cơ chế quản lý nhà
nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa từ sản xuất, nhập khẩu
đến tiêu dùng thông qua việc áp dụng các hình thức đánh giá
sự phù hợp như thử nghiệm, giám định, chứng nhận, công bố sự
phù hợp, thừa nhận và công nhận để đảm bảo tiêu chuẩn công
bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật kỹ thuật tương ứng được áp
dụng đúng đối tượng và nghiêm túc.
Phân công
trách nhiệm quản lý nhà nước về chất lượng; xây dựng các cơ
chế, chính sách liên quan đến hoạt động thanh tra, kiểm tra,
các biện pháp thích hợp để xử lý các hành vi vi phạm về chất
lượng sản phẩm, hàng hóa để đảm bảo pháp luật được thực thi,
hành vi vi phạm không được tái diễn.
Hoạt động
kiểm soát chất lượng là một phần của công tác quản lý chất
lượng mà tập trung chính vào việc làm thế nào để đáp ứng các
yêu cầu về chất lượng đã được đặt ra.
Quy định tiêu
chí, điều kiện của tổ chức đánh giá sự phù hợp và các biện
pháp quản lý các tổ chức này; Khuyến khích các tổ chức, cá
nhân đầu tư đặc biệt đối với hoạt động thử nghiệm và nâng
cao năng lực đánh giá sự phù hợp; khuyến khích thừa nhận
đánh giá sự phù hợp; Quy định các phương thức đánh giá sự
phù hợp được tin cậy, đồng thời thúc đẩy việc cải tiến chất
lượng của doanh nghiệp; Áp dụng các yêu cầu đặc thù trong
quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ đối với những sản
phẩm, hàng hóa có nguy cơ gây mất an toàn hoặc đòi hỏi chất
lượng cao;... Xây dựng chính sách thích hợp để thúc đẩy,
khuyến khích áp dụng tiêu chuẩn tiên tiến, nâng cao năng
suất, chất lượng;
Thực hiện các
hoạt động đánh giá sự phù hợp; tiến hành kiểm tra, thanh tra
và xử lý vi phạm.
Hoạt động đảm
bảo chất lượng nhằm cung cấp cho cho các đối tượng liên quan
bao gồm cả người tiêu dùng trong và ngoài nước, các cơ quan
quản lý chất lượng của các quốc gia khác nhau tin tưởng rằng
các yêu cầu về chất lượng được đáp ứng và có thể bao gồm một
số nội dung sau:
Minh bạch các
thông tin, cơ chế và cách thức quản lý chất lượng của các
quốc gia thông qua việc hình thành và thực hiện hệ thống hỏi
đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại TBT để tạo lòng
tin của khách hàng trong nước, quốc tế và các nền kinh tế
khác; Thông tin rộng rãi các vấn đề liên quan đến xây dựng
và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và kết quả đánh
giá sự phù hợp của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân...;
Thông tin đầy đủ và chính xác về những thiệt hại, tồn tại,
yếu kém liên quan đến việc không đảm bảo cam kết về chất
lượng để tạo lòng tin rằng những bất cập đang được kiểm soát,
điều chỉnh; Các thông tin liên quan đến năng lực, lĩnh vực
của các tổ chức đánh giá sự phù hợp để tạo sự tin tưởng vào
kết quả đánh giá sự phù hợp; Thông qua kịp thời và đúng mức
về kết quả thanh tra, kiểm tra và tình trạng chất lượng đối
với mọi sản phẩm, hàng hóa đang có vấn đề về chất lượng.
Tùy theo mỗi
quốc gia, hoạt động cải tiến chất lượng có thể bao gồm các
hạot động sau: Xây dựng và thực hiện các chính sách thích
hợp để tạo sân chơi bình đẳng cho mọi doanh nghiệp, cạnh
tranh lành mạnh trên cơ sở lấy chất lượng làm nền tảng của
thương hiệu, khuyến khích sản xuất phát triển trên cơ sở
hướng tới cải tiến chất lượng; Thông tin, tuyên truyền,
quảng bá nhằm nâng cao nhận thức xã hội, nhà sản xuất và
người tiêu dùng về việc quản lý chất lượng; Thông tin, giới
thiệu và đào tạo về công nghệ, phương thức quản lý chất
lượng tiên tiến trên thế giới.
Cần tạo được
lòng tin đối với các nhà đầu tư nước ngoài về một thị trường
cạnh tranh lành mạnh, không có sự phân biệt đối xử hoặc
không công bằng của Nhà nước, góp phần thu hút đầu tư nước
ngoài và đầu tư của Việt kiều về nước; Tạo được lòng tin cho
khách hàng ở các nền kinh tế khác nhau, các nhà nhập khẩu
nước ngoài về uy tín và cam kết chất lượng của hàng hóa Việt
Nam, góp phần làm cho hàng hóa Việt Nam dễ dàng thâm nhập
các thị trường lớn và khó tính; Thuận lợi hóa thương mại
thông qua việc các thủ tục đánh giá sự phù hợp của Việt Nam
được thừa nhận quốc tế, thực hiện khẩu hiệu hội nhập về chất
lượng " một lần đánh giá, cấp một chứng chỉ, có giá trị ở
mọi nơi". Qua đó, thuận lợi hóa các thủ tục xuất nhập khẩu,
góp phần làm cho quá trình giao dịch thương mại và vận tải
quốc tế qua các cửa khẩu của Việt Nam và quốc tế trở nên
năng động và hiệu quả hơn; Làm cơ sở cho việc thừa nhận song
phương và đa phương về kết quả đánh giá sự phù hợp, rút ngắn
thời gian chờ đợi, giảm chi phí thử nghiệm trong giao thương
quốc tế, góp phần làm hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ Việt
Nam; Nâng cao vị thế của Việt Nam nói chung và vị thế của
sản phẩm hàng hóa Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế.
Th.s Trần
Văn Vinh
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục TCĐLCL
|